Nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi đua, khen thưởng, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật số 06/2026/QH16 ngày 23/4/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; Chính phủ ban hành Nghị định số 368/2026/NĐ-CP ngày 25/9/2026; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 45/2026/QĐ-TTg ngày 16/9/2026. Các văn bản có hiệu lực từ ngày 01/10/2026, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý, đáp ứng yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và nâng cao trách nhiệm trong công tác thi đua, khen thưởng.
Một số nội dung trọng tâm cần quan tâm trong quá trình triển khai thực hiện như sau:
1. Luật số 06/2026/QH16 ngày 23/4/2026
Luật sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng, bảo đảm đúng đối tượng, đúng thành tích, kịp thời và thực chất. Trong đó, tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:
Về nguyên tắc khen thưởng: Tiếp tục hoàn thiện nguyên tắc khen thưởng theo thành tích đạt được; một hình thức khen thưởng có thể được tặng nhiều lần cho một đối tượng nhưng không khen thưởng nhiều lần, nhiều hình thức đối với cùng một thành tích, trừ trường hợp khen thưởng công trạng. Đồng thời, chú trọng khen thưởng ở cơ sở, các tập thể, cá nhân, hộ gia đình trực tiếp lao động, sản xuất, kinh doanh; đối tượng công tác tại biên giới, biển, đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu, mang lại lợi ích thiết thực, nhất là trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (khoản 1 Điều 1 Luật số 06/2026/QH16, sửa đổi, bổ sung điểm c, điểm d khoản 2 Điều 5 Luật Thi đua, khen thưởng).
Làm rõ hơn khái niệm “Khen thưởng công trạng” và “Khen thưởng phong trào thi đua theo chuyên đề”. Khen thưởng công trạng gắn với quá trình phấn đấu liên tục, tích lũy thành tích và kết quả đánh giá, xếp loại hằng năm; khen thưởng chuyên đề gắn với thành tích xuất sắc trong những phong trào thi đua được phát động, chỉ đạo trong thời gian cụ thể. Qua đó, góp phần hạn chế khen thưởng bình quân, dàn trải, chuyển trọng tâm sang đánh giá thành tích, kết quả, sản phẩm và hiệu quả thực tế (Khoản 2 Điều 1 sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 3 Điều 8 Luật Thi đua khen thưởng).
Về danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”: Sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn xét tặng theo hướng gắn kết quả thực hiện nhiệm vụ với sáng kiến, nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo được đánh giá hiệu quả hoặc thành tích mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Qua đó, khuyến khích tinh thần đổi mới, sáng tạo và nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ (khoản 7 Điều 1 Luật số 06/2026/QH16, sửa đổi, bổ sung Điều 23 Luật Thi đua, khen thưởng).
Về danh hiệu thi đua và thẩm quyền khen thưởng: Điều chỉnh danh hiệu “Xã, phường, thị trấn tiêu biểu” thành “Xã, phường, đặc khu tiêu biểu”; đồng thời sửa đổi các quy định liên quan đến thẩm quyền xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng, bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, giảm khâu trung gian, tăng tính chủ động và trách nhiệm của chính quyền cơ sở.
2. Nghị định số 368/2026/NĐ-CP ngày 25/9/2026 của Chính phủ: Gồm 09 chương, 64 điều, quy định cụ thể về nguyên tắc xét danh hiệu thi đua, hình thức và tiêu chuẩn khen thưởng, thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục, quỹ thi đua, khen thưởng và mức tiền thưởng, cụ thể:
Về nguyên tắc xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng: Việc xét khen thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được; không nhất thiết phải có hình thức khen thưởng ở mức thấp mới được xét khen thưởng ở mức cao hơn. Cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng đối với trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện, tiêu chuẩn, hồ sơ và thủ tục theo quy định (khoản 1, khoản 2 Điều 4). Quy định này góp phần khắc phục cách hiểu máy móc theo kiểu “phải có khen thưởng cấp dưới mới được xét cấp trên”, đồng thời tạo điều kiện để những thành tích nổi bật được xem xét, khen thưởng kịp thời.
Về tỷ lệ xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”: Theo Điều 5 Nghị định số 368/2026/NĐ-CP, đối với các trường hợp quy định tại điểm b, điểm c và điểm d khoản 1 Điều 23 Luật Thi đua, khen thưởng, số lượng cá nhân được xét tặng không quá 10% tổng số cá nhân đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến”. Tỷ lệ này không áp dụng đối với cá nhân được xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Luật Thi đua, khen thưởng. Quy định này nhằm bảo đảm xét chọn có trọng tâm, khuyến khích sáng kiến, đổi mới sáng tạo và thành tích nổi bật, không áp dụng máy móc tỷ lệ 10% cho tất cả các trường hợp. Đây là cơ sở để công tác thi đua, khen thưởng ngày càng thực chất, hướng vào người lao động trực tiếp và những tập thể, cá nhân có đóng góp nổi bật.
Về chính sách đối với nữ trong công tác thi đua, khen thưởng: Thời gian nghỉ thai sản theo quy định của pháp luật được tính là thời gian công tác để xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng. Khi có nhiều cá nhân, tập thể cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì lựa chọn cá nhân nữ hoặc tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên. Đối với khen thưởng quá trình cống hiến, thời gian giữ chức vụ của nữ lãnh đạo, quản lý được giảm một phần ba so với thời gian quy định chung, trừ trường hợp thuộc diện có tuổi nghỉ hưu cao hơn theo quy định của pháp luật (khoản 5, khoản 6 và khoản 7 Điều 4 Nghị định số 368/2026/NĐ-CP). Đây là Một nội dung mới có ý nghĩa đối với người lao động nữ, thể hiện rõ chính sách quan tâm, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ trong công tác thi đua, khen thưởng; khắc phục bất lợi về thời gian công tác do thực hiện thiên chức làm mẹ, đồng thời tạo điều kiện để phụ nữ được đánh giá, ghi nhận thành tích một cách công bằng, thực chất.
Về mức tiền thưởng: Tiền thưởng kèm theo danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng được xác định trên cơ sở mức lương cơ sở đang có hiệu lực tại thời điểm ban hành quyết định khen thưởng và hệ số tương ứng theo quy định. Các cơ quan, đơn vị cần áp dụng đúng mức lương cơ sở, hệ số và nguyên tắc tính thưởng, bảo đảm thống nhất, công khai, minh bạch (Điều 52, Điều 53 và các quy định có liên quan của Nghị định). Việc quy định rõ nguyên tắc và mức tiền thưởng góp phần bảo đảm công khai, minh bạch, thống nhất trong quá trình thực hiện. Đây là cơ sở quan trọng để các cơ quan, đơn vị chủ động rà soát quy chế thi đua, khen thưởng; tổ chức bình xét bảo đảm đúng tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục; hạn chế tình trạng khen thưởng dàn trải, thiếu căn cứ hoặc không gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ.
3. Quyết định số 45/2026/QĐ-TTg ngày 16/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ: Gồm 06 chương, 72 điều, quy định cụ thể một số nội dung thi hành Luật Thi đua, khen thưởng; trong đó, quy định về xét tặng, truy tặng Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang và tổ chức tôn vinh, trao tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác, cụ thể:
Về Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang: Quyết định quy định đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn xét tặng, truy tặng đối với Thanh niên xung phong có thành tích trong các cuộc kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, Thanh niên xung phong hoàn thành nhiệm vụ, có thời gian tham gia lực lượng Thanh niên xung phong thường xuyên từ đủ 24 tháng trở lên được xem xét xét tặng khi đáp ứng các điều kiện theo quy định. Trường hợp hy sinh khi làm nhiệm vụ và đã được công nhận là liệt sĩ được xem xét truy tặng. Thời gian tham gia được cộng dồn theo quy định; Huy chương chỉ được xét tặng hoặc truy tặng một lần đối với mỗi cá nhân. Đồng thời, Quyết định quy định cụ thể về hồ sơ, trình tự, thủ tục và trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xét tặng, truy tặng, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng.
Về tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng cho doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác: Quyết định quy định về đối tượng, nguyên tắc, thẩm quyền, phạm vi, thời gian và trình tự tổ chức xét tôn vinh; đồng thời tăng tính chủ động, trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong tổ chức thực hiện, bảo đảm hoạt động tôn vinh thiết thực, đúng quy định.
Việc Luật số 06/2026/QH16, Nghị định số 368/2026/NĐ-CP và Quyết định số 45/2026/QĐ-TTg cùng có hiệu lực từ ngày 01/10/2026 đánh dấu bước tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng. Các quy định mới hướng đến mục tiêu xây dựng công tác thi đua, khen thưởng thực chất, công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng thành tích và kịp thời. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và mỗi cơ quan, đơn vị cần chủ động nghiên cứu, nắm vững và thực hiện nghiêm các quy định mới; đồng thời tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua bằng những việc làm cụ thể, thiết thực. Các cơ quan, đơn vị cần coi kết quả thực hiện nhiệm vụ, chất lượng công việc, sáng kiến, hiệu quả phục vụ Nhân dân và đóng góp cho tập thể là căn cứ quan trọng trong đánh giá, bình xét thi đua, khen thưởng. Thực hiện tốt các quy định mới không chỉ bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước mà còn góp phần tạo động lực để mỗi cá nhân, tập thể phát huy tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, sáng tạo, thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ, đóng góp tích cực vào sự phát triển của cơ quan, đơn vị, địa phương và đất nước. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, tuyên truyền sâu rộng, khen thưởng đúng người, đúng việc, đúng thành tích chính là giải pháp thiết thực để các phong trào thi đua thực sự trở thành động lực phát triển trong giai đoạn mới./.