Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) là một công việc quan trọng hàng năm. Để có cơ sở xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC năm 2026 sát thực, hiệu quả, tránh được tình trạng đào tạo dàn trải, lãng phí nguồn lực, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, hoàn thiện kỹ năng và kiến thức quản lý, đặc biệt là trong các lĩnh vực mới như khoa học công nghệ, kỹ năng số; ngày 07/8/2025, Sở Nội vụ tỉnh Phú Thọ đã ban hành Công văn số 1112/SNV-CCHC về việc đăng ký nhu cầu, xây dựng Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC năm 2026.
1. Căn cứ pháp lý và mục tiêu của Kế hoạch
Việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC năm 2026 được thực hiện dựa trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành, bao gồm Nghị định số 101/2017/NĐ-CP của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC, Nghị định số 89/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP, và Nghị định số 171/2025/NĐ-CP quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức. Ngoài ra, căn cứ vào các văn bản quy định của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ về công tác này.
Kế hoạch cần xác định rõ mục tiêu, chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với tình hình thực tiễn; khảo sát nhu cầu dựa trên vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải tập trung vào việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thiện trình độ lý luận chính trị, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh. Đặc biệt, cần chú trọng kiến thức, kỹ năng theo yêu cầu vị trí việc làm sau khi thực hiện mô hình chính quyền 2 cấp. Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng các lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kỹ năng số, công nghệ số cần được ưu tiên hàng đầu.
2. Chi tiết về nội dung đăng ký nhu cầu
a) Đối với cán bộ, công chức
Đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Ưu tiên các lĩnh vực như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kỹ năng số, công nghệ số để đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước: Gồm bồi dưỡng cho lãnh đạo, quản lý cấp phòng ở cấp sở và cấp xã, cũng như lãnh đạo, quản lý cấp sở và tương đương.
Bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm: Gồm bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn dùng chung, nghiệp vụ chuyên ngành, các khóa bồi dưỡng ngắn ngày ở nước ngoài và các nội dung bồi dưỡng khác.
b) Đối với viên chức
Các cơ quan, đơn vị căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và quy định hiện hành để đăng ký nhu cầu cử viên chức tham gia các chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và theo yêu cầu vị trí việc làm.
Các cơ quan, đơn vị có thể chủ động xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành, chức danh nghề nghiệp viên chức, sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp để tổ chức lớp học hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
c) Quy trình và thời gian thực hiện
Công tác rà soát nhu cầu, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng năm 2026 được thực hiện theo 4 bước cụ thể:
Bước 1: Khảo sát nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của từng cá nhân CBCCVC và từng vị trí việc làm.
Bước 2: Tổng hợp nhu cầu, đánh giá thực trạng đội ngũ (điểm mạnh, hạn chế) để xác định mục tiêu, chỉ tiêu.
Bước 3: Xác định rõ đối tượng, nội dung, chương trình, tài liệu, số lượng lớp và học viên, hình thức, thời gian, địa điểm, cơ sở đào tạo, giảng viên và dự toán chi tiết kinh phí mở lớp.
Bước 4: Xây dựng kế hoạch gồm các nội dung: nêu các căn cứ pháp lý; mục đích, yêu cầu; nội dung đào tạo, bồi dưỡng.
Nội dung số lượng đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước cần xác định rõ số lượng đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị; chức danh nghề nghiệp viên chức; tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng kiến thức kỹ năng chuyên ngành, bồi dưỡng theo vị trí việc làm; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng anh ninh, ngoại ngữ, tiếng dân tộc và các trình độ đào tạo khác (Tiến sĩ, Thạc sĩ, Đại học), kèm theo các phụ lục tổng hợp chi tiết.
Hồ sơ thẩm định bao gồm công văn khảo sát nhu cầu; công văn đăng ký nhu cầu; báo cáo tổng hợp kết quả khảo sát nhu cầu; dự thảo Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC. Sở Nội vụ sẽ phối hợp với Sở Tài chính tổ chức thẩm định kế hoạch trước khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành theo quy định.